Đám giỗ là ngày gia đình tưởng nhớ người đã mất, tổ chức hằng năm đúng ngày mất theo âm lịch. Con cháu làm mâm cỗ cúng trên bàn thờ, mời họ hàng và người thân đến thắp hương rồi cùng ăn bữa cơm. Giỗ đầu sau một năm và giỗ hết sau khoảng hai năm còn mang không khí tang; từ đó trở đi là giỗ thường, vui vẻ, đông đủ, như một dịp họp mặt gia đình.
Với nhiều người Việt, giỗ quan trọng không kém Tết: con cháu ở xa có thể không về được Tết nhưng cố về ngày giỗ ông bà, cha mẹ. Bài này giải thích cách tính ngày giỗ, các mốc giỗ đặc biệt, mâm cỗ giỗ ba miền, và những gì bạn nên làm khi được mời đến một đám giỗ, kể cả khi bạn là người nước ngoài hay con dâu, con rể mới về nhà chồng, nhà vợ.
Cách tính ngày giỗ và vì sao lại theo âm lịch
Ngày giỗ là ngày mất của người đã khuất tính theo âm lịch. Nếu ông mất ngày mùng 8 tháng Ba âm lịch, thì mỗi năm gia đình làm giỗ vào mùng 8 tháng Ba âm lịch, dù ngày dương lịch tương ứng thay đổi mỗi năm. Đây là lý do người Việt, kể cả người trẻ, vẫn cần tra lịch âm và nhiều ứng dụng điện thoại có sẵn chức năng nhắc ngày giỗ.
Người mất vào ban đêm thì có nhà tính theo ngày âm lịch của buổi tối đó, có nhà tính sang ngày hôm sau nếu sau nửa đêm. Năm có tháng nhuận, gia đình thường làm giỗ vào tháng chính, không làm hai lần. Những chi tiết này do người lớn tuổi trong họ quyết định và được truyền lại trong gia đình.
Nhiều nhà làm hai lễ: lễ tiên thường vào chiều hôm trước ngày giỗ, như lời mời người đã khuất về dự, và lễ chính kỵ vào đúng ngày giỗ. Bữa cỗ mời khách có thể rơi vào một trong hai buổi tuỳ nếp nhà. Ở thành phố, nhiều gia đình dời bữa cỗ sang ngày cuối tuần gần nhất để con cháu đi làm có thể về, nhưng vẫn thắp hương đúng ngày.
Các mốc giỗ và tính chất từng mốc
Theo nếp truyền thống phổ biến, ngày giỗ của một người qua các năm đầu sau khi mất có tên gọi và không khí khác nhau. Mức độ giữ các mốc này tuỳ từng vùng và từng gia đình:
| Mốc | Thời điểm | Tính chất |
|---|---|---|
| Lễ 49 ngày, 100 ngày | Sau ngày mất | Còn trong tang, chủ yếu người nhà và họ hàng gần |
| Giỗ đầu (tiểu tường) | Tròn một năm | Còn buồn, con cháu vẫn để tang, khách là người thân và bạn bè gần |
| Giỗ hết (đại tường) | Năm thứ hai sau giỗ đầu | Lễ trang trọng, thường đông người; theo nếp cũ, sau đó ít lâu là lễ hết tang |
| Giỗ thường (cát kỵ) | Các năm tiếp theo | Không khí ấm cúng, họp mặt gia đình, nhiều tiếng cười |
Sau giỗ hết, con cháu bỏ khăn tang, gia đình trở lại sinh hoạt bình thường. Từ đây ngày giỗ thành một dịp vui: cả họ gặp nhau, kể chuyện người đã khuất, bàn chuyện con cháu học hành, làm ăn.
Ở nhiều gia đình, khi số thế hệ đã nhiều, các ngày giỗ của các cụ xa được gộp vào một ngày giỗ họ hoặc giỗ tổ, tổ chức ở nhà thờ họ, nhằm giảm gánh nặng cho con cháu mà vẫn giữ sự tưởng nhớ.
Mâm cỗ giỗ ba miền: những món thường gặp
Mâm cỗ giỗ là bữa ăn ngon nhất của gia đình trong ngày đó, cũng là dịp người phụ nữ trong nhà thể hiện tay nghề. Món ăn thay đổi theo vùng và theo sở thích của người đã khuất khi còn sống:
- Miền Bắc: xôi gấc hoặc xôi đỗ, gà luộc, giò lụa, nem rán, canh măng hoặc canh bóng, các món xào, nộm. Mâm cỗ thường bày theo số bát đĩa chẵn, cân đối.
- Miền Trung: thêm nhiều món mặn đậm vị như thịt heo luộc chấm mắm, nem chả, bánh bèo, bánh nậm ở vùng Huế, các món cá kho.
- Miền Nam: thịt kho hột vịt, canh khổ qua, chả giò, gỏi, gà luộc hoặc gà xé phay, bánh tét hoặc xôi, chè.
- Món người mất thích: nhiều gia đình nấu thêm một món mà ông bà, cha mẹ ưa khi còn sống, có khi là một chén chè, một đĩa bánh quê, như một cách nhớ về họ.
- Đồ cúng chay: một số gia đình có người mất theo đạo Phật hoặc ăn chay làm mâm cỗ chay, với các món đậu, nấm, rau củ.
Món đặt lên bàn thờ được làm riêng và dọn lên trước. Sau khi hương tàn, gia chủ xin phép hạ cỗ và dọn ra mời khách. Khách không tự ý gắp thức ăn trước khi gia chủ mời.
Được mời đi giỗ: chuẩn bị và cư xử ra sao
Lời mời dự giỗ thường qua điện thoại hoặc nhắn tin, không có thiệp. Nhận lời là nhận một sự thân tình. Các bước dưới đây giúp bạn làm khách cho khéo:
- Hỏi rõ giờ và hình thức: bữa trưa hay tối, ngày chính hay ngày cuối tuần. Giỗ thường bắt đầu sớm hơn bữa ăn thường.
- Mang lễ vật nhỏ: một bó hương, một đĩa hoa quả, hộp bánh, chai rượu, hoặc phong bì ghi tên. Ở nhiều nơi miền Bắc gọi là "đồ lễ", khách đặt lên bàn thờ hoặc trao cho gia chủ.
- Đến hơi sớm nếu là người trong họ để phụ giúp nấu nướng, bày mâm. Khách xa thì đến đúng giờ.
- Thắp hương trước khi ngồi vào mâm: chào gia chủ, xin phép thắp một nén hương trên bàn thờ, vái và có thể khấn thầm tưởng nhớ người đã mất.
- Ngồi theo sự sắp xếp: người lớn tuổi, các cụ trong họ ngồi mâm trên. Khách trẻ ngồi mâm dưới hoặc giúp dọn món.
- Mời người lớn trước khi ăn theo phép ăn của người Việt, nâng chén rượu đầu tiên tưởng nhớ người mất nếu gia chủ khởi xướng.
- Phụ dọn dẹp nếu là người thân; khách xa thì cảm ơn gia chủ trước khi về.
Với con dâu, con rể mới, giỗ bên nhà chồng, nhà vợ là dịp quan trọng để ra mắt họ hàng. Đến sớm, xắn tay giúp việc và chào hỏi đầy đủ người lớn là cách được quý nhất.
Giỗ chung của cả cộng đồng: giỗ họ, giỗ tổ nghề và Giỗ Tổ Hùng Vương
Ngoài giỗ trong gia đình, người Việt có những ngày giỗ chung. Giỗ họ là dịp cả dòng họ tề tựu ở nhà thờ họ để tưởng nhớ cụ tổ, thường kèm việc cập nhật gia phả, khen thưởng con cháu học giỏi. Nhiều làng nghề có ngày giỗ tổ nghề, tưởng nhớ người được coi là đã truyền nghề cho làng, như các làng gốm, làng đúc đồng, làng kim hoàn; nhiều ngành như sân khấu, may mặc cũng có ngày giỗ tổ riêng.
Ở cấp quốc gia, Giỗ Tổ Hùng Vương ngày mùng 10 tháng Ba âm lịch là ngày giỗ chung của cả dân tộc, tưởng nhớ các vua Hùng, những người theo truyền thuyết đã dựng nước Văn Lang. Đây là ngày nghỉ lễ chính thức hưởng nguyên lương theo Bộ luật Lao động. Lễ chính tổ chức tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng ở Phú Thọ, tỉnh đã hợp nhất với Vĩnh Phúc và Hoà Bình từ tháng 7/2025 và vẫn giữ tên Phú Thọ. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2012.
Những ngày giỗ chung này cho thấy rõ cách người Việt nghĩ về giỗ: không chỉ là chuyện nhớ một người, mà là nhớ nguồn cội, từ ông bà trong nhà đến tổ nghề, tổ tiên của cả cộng đồng.
Giỗ trong nhịp sống hiện đại: giữ gì, đổi gì
Dời bữa cỗ sang cuối tuần. Nhiều gia đình thành phố thắp hương đúng ngày nhưng tổ chức ăn uống vào ngày nghỉ gần nhất để con cháu đi làm xa về được. Cách làm này ngày càng được chấp nhận rộng rãi.
Đặt cỗ thay vì tự nấu. Dịch vụ nấu cỗ giỗ, đặt mâm cỗ đã khá phổ biến ở đô thị. Nhiều nhà vẫn tự nấu ít nhất một vài món để giữ hương vị gia đình.
Chia nhau làm giỗ. Khi các con ở nhiều nơi, có gia đình luân phiên làm giỗ cha mẹ ở nhà từng người, hoặc mỗi người góp một phần. Điều quan trọng là thống nhất được với nhau và với người giữ bàn thờ chính.
Giỗ ở nước ngoài. Gia đình Việt kiều thường làm giỗ đơn giản hơn, mâm cơm nhỏ, mời vài gia đình người Việt quanh vùng, gọi video về quê vào giờ cúng ở Việt Nam.
Giữ ý nghĩa, bớt hình thức. Một bữa cơm ấm áp, con cháu kể chuyện về người đã mất cho thế hệ sau nghe, nhiều khi giá trị hơn mâm cỗ linh đình mà ai cũng mệt mỏi.
Giỗ khác Tết thanh minh và rằm tháng Bảy ở điểm nào
Người mới tìm hiểu dễ lẫn ba dịp tưởng nhớ người đã khuất. Giỗ là ngày riêng của từng người, mỗi người trong nhà một ngày khác nhau, gia đình làm cỗ và mời khách. Tết Thanh minh, rơi vào khoảng đầu tháng 4 dương lịch theo tiết khí, là dịp con cháu đi tảo mộ: ra nghĩa trang dọn cỏ, đắp lại mộ, thắp hương cho mọi người đã khuất trong họ cùng lúc. Miền Bắc và miền Trung giữ tục này rõ hơn; nhiều gia đình miền Nam đi tảo mộ vào dịp cuối năm âm lịch, trước Tết.
Rằm tháng Bảy âm lịch là dịp lễ Vu Lan báo hiếu với cha mẹ, đồng thời theo tín ngưỡng dân gian là ngày xá tội vong nhân, nhiều nhà cúng thêm một mâm cháo, gạo muối, bánh kẹo ở ngoài sân cho những người không ai thờ cúng. Đây là lễ chung theo lịch, không gắn với ngày mất của riêng ai.
Vì vậy trong một năm, một gia đình có bàn thờ gia tiên có thể bận rộn với ba lớp lễ: giỗ của từng người, Thanh minh tảo mộ, rằm tháng Bảy, chưa kể Tết và các ngày rằm, mùng một. Người ngoài có thể không cần nhớ hết, nhưng biết rằng ngày giỗ là chuyện "riêng mà lớn" của một gia đình sẽ giúp bạn hiểu vì sao đồng nghiệp xin nghỉ một buổi để về quê, hay vì sao bạn bè từ chối một cuộc hẹn vào một ngày thường trong tuần.
Nếu bạn quản lý nhân sự người Việt, nên coi xin nghỉ về giỗ cha mẹ, ông bà như một lý do chính đáng tương tự việc gia đình quan trọng. Nhiều công ty có sẵn quy định ngày nghỉ việc riêng; ngoài các trường hợp luật định có hưởng lương, việc sắp xếp thêm cho ngày giỗ là chuyện thoả thuận, nhưng sự thông cảm của người quản lý luôn được nhớ lâu.
Câu hỏi thường gặp
Ngày giỗ tính theo ngày mất hay ngày sinh?
Theo ngày mất, tính theo âm lịch. Ví dụ người mất ngày 15 tháng Bảy âm lịch thì hằng năm gia đình làm giỗ vào ngày 15 tháng Bảy âm lịch. Ngày dương lịch tương ứng thay đổi mỗi năm nên cần xem lịch âm để biết.
Giỗ đầu khác giỗ thường thế nào?
Giỗ đầu là ngày giỗ năm đầu tiên sau khi mất, gia đình vẫn đang để tang nên không khí còn buồn, khách chủ yếu là người thân. Giỗ thường từ sau giỗ hết là dịp họp mặt vui vẻ, có thể mời nhiều bạn bè, hàng xóm hơn.
Đi giỗ nên mang gì?
Thường là lễ vật nhỏ như hương, hoa, hoa quả, hộp bánh, chai rượu, hoặc một phong bì có ghi tên. Không cần quà đắt tiền. Khi đến, đặt lễ lên bàn thờ hoặc trao cho gia chủ và xin phép thắp hương.
Người nước ngoài được mời dự giỗ có cần thắp hương không?
Không bắt buộc. Nếu gia chủ mời và bạn thấy thoải mái, thắp một nén hương là cử chỉ đẹp. Nếu không, chỉ cần đứng trước bàn thờ cúi đầu chào. Gia chủ sẽ quý sự có mặt và thái độ tôn trọng của bạn.
Có được dời ngày giỗ không?
Ngày thắp hương thường giữ đúng ngày mất âm lịch. Bữa cỗ mời khách thì nhiều gia đình dời sang cuối tuần gần đó để con cháu tiện về. Việc dời sớm hay muộn do người lớn trong gia đình quyết, mỗi nhà một nếp.
Giỗ Tổ Hùng Vương có phải ngày nghỉ không?
Có. Ngày mùng 10 tháng Ba âm lịch là ngày nghỉ lễ hưởng nguyên lương theo Bộ luật Lao động. Lễ chính tổ chức ở Đền Hùng, Phú Thọ; nhiều địa phương khác cũng có lễ dâng hương tưởng niệm.